Tìm kiếm: 
Phát huy vai trò của khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp

Những năm qua sản xuất nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc liên tục có sự tăng trưởng vượt bậc, giá trị sản xuất toàn ngành năm sau cao hơn năm trước; năng suất cây trồng, vật nuôi từng bước được nâng lên; chất lượng nông sản được cải thiện theo hướng đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Để có được kết quả đó ngành Nông nghiệp & PTNT đã áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó giải pháp ứng dụng khoa học công nghệ được coi là khâu tạo sự đột phá.

Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ

Nhận thức  rõ vai trò động lực của khoa học công nghệ trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất. Được sự quan tâm của Tỉnh ủy – HĐND – UBND tỉnh, ngành Nông nghiệp & PTNT Vĩnh Phúc chỉ đạo các đơn vị trong ngành tích cực nghiên cứu, ứng dụng sâu rộng các tiến bộ kỹ thuật vào tất cả các lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp và đã đạt được những kết quả khả quan.

Từ khi tái lập tỉnh Hội đồng KH&CN tỉnh đã ưu tiên để ngành nông nghiệp & PTNT triển khai hàng loạt đề tài, dự án khoa học công nghệ thuộc chương trình nông thôn miền núi. Giai đoạn từ 1997 – 2005 đã có 28 TBKT được ứng dụng và 131 đề tài, dự án được triển khai, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi, nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng, vật nuôi, sử dụng hợp lý tài nguyên đất trong sản xuất nông nghiệp, bảo vệ cây trồng và vật nuôi theo hướng phát triển bền vững. Trong trồng trọt, cơ cấu giống lúa đã được chuyển đổi mạnh sang các giống mới, ngắn ngày từ đó thực hiện thành công việc chuyển trà lúa theo hướng mở rộng trà xuân muộn, mùa sớm; thu hẹp trà lúa chiêm và xuân sớm; bỏ hẳn trà lúa xuân chính vụ, lúa mùa cực sớm. Từ năm 2000 đến năm 2004, năng suất lúa của tỉnh đã tăng 13,2%, tổng sản lượng lương thực quy thóc tăng 5,5%, trong khi diện tích đất nông nghiệp giảm 5%. Tỉnh cũng xác định được các giống ngô lai chủ lực, và trở thành tỉnh đứng đầu cả nước về tỉ lệ trồng ngô lai. Các biện pháp kỹ thuật trong thâm canh ngô như thời vụ, mật độ, bón phân, phòng trừ sâu bệnh được tập trung chỉ đạo sâu sát, do vậy năng suất không ngừng nâng cao. Về  phát triển rau, hoa: Nhiều giống mới đã được triển khai trồng và thu được kết quả đáng khích lệ như rau cải các loại, dưa hấu, dưa chuột, hoalyly, cúc, lan,... Từ đó góp phần quan trọng tạo ra các cánh đồng hoa trị giá hàng trăm triệu đồng/ha/năm.

Giai đoạn từ năm 2006 – 2010, tiếp tục triển khai 105 đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh, 06 dự án khoa học công nghệ. Quá trình nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ đã thúc đẩy sản xuất nông nghiệp của tỉnh chuyển dịch theo hướng tích cực. Trồng trọt ổn định cơ cấu sản xuất 3 vụ/năm với công thức luân canh phổ biến là 2 vụ lúa một vụ đông. Đã xác định được cơ cấu giống hợp lý cho từng vùng trong tỉnh, với các giống có tiềm năng năng suất, chất lượng cao. Các tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất, thâm canh như SRI, 3 giảm 3 tăng, IPM, gieo thẳng bằng giàn kéo tay, đưa cơ giới hoá vào trong các khâu làm đất, thu hoạch,… Đặc biệt, nhờ tích cực đưa các giống rau, cây màu và sản xuất vụ Đông nên từ đây vụ Đông đã trở thành vụ sản xuất hàng hóa chính, bên cạnh cây ngô đông truyền thống thì hàng loạt cây trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn đã được mở rộng trong sản xuất vụ đông như: bí xanh, bí đỏ, dưa chuột, cà chua, susu, ớt... Đã hình thành được nhiều vùng trồng trọt sản xuất hàng hoá tập trung như: vùng lúa chất lượng cao HT1, TBR-1; vùng bí đỏ; vùng dưa chuột, dưa hấu; vùng rau susu. Chăn nuôi, thủy sản của tỉnh tiếp tục phát triển mạnh, đã tạo ra bước đột phá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Trong chăn nuôi xuất hiện nhiều mô hình chăn nuôi công nghiệp với quy mô lớn, hiệu quả kinh tế cao, góp phần tăng tỷ trọng chăn nuôi từ 34,6% năm 2005 lên 53% năm 2010. Đã có nhiều hộ nông dân mạnh dạn áp dụng kết quả đề tài nghiên cứu phương thức nuôi thả bán công nghiệp với các loài cá truyền thống đã cho năng suất từ 10-15 tấn/ha, có mô hình đạt 18 tấn/ha.

Từ năm 2011 đến nay, việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp đã chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu, trong đó tập trung nghiên cứu vào một số lĩnh vực công nghệ cao như: Trồng rau, hoa chất lượng cao trong nhà lưới; phát triển chăn nuôi, thủy sản theo hướng thâm canh. Đặc biệt, trong năm 2015 Vĩnh Phúc được Bộ Nông nghiệp & PTNT chọn là một trong 4 địa phương trong cả nước tổ chức khảo nghiệm ngô biến đổi gen. Sở Nông nghiệp & PTNT thường xuyên phối hợp với các sở, ban, ngành đặc biệt là Sở Khoa học công nghệ tổ chức hội thảo khoa học đánh giá thực trạng và định hướng phát triển nông nghiệp của tỉnh, giới thiệu các tiến bộ kỹ thuật và giải pháp KHCN trong sản xuất nông nghiệp góp phần phục vụ thiết thực cho Chương trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh.

Gắn nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất

Chúng tôi về huyện Vĩnh Tường để tìm hiểu về việc vận dụng kết quả của các đề tài nghiên cứu khoa học vào thực tiễn. Năm 2007, Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Vĩnh Tường chủ trì nghiên cứu đề tài “Cấy lúa theo mật độ thưa và điều tiết nước giai đoạn cuối đẻ nhánh để thâm canh lúa cao sản trên đất phù sa”. Tập quán sản xuất của nông dân Vĩnh Tường thông thường cấy từ 50-55 khóm lúa/m2, như vậy, mỗi sào sẽ phải mất từ 2,5-3 kg lúa giống. Với việc thực hiện đề tài này, mật độ cấy giảm xuống còn 33 – 35 khóm/m2, mỗi khóm chỉ cấy 2 – 3 rảnh mạ. Với cách làm này, mỗi sào người nông dân tiết kiệm được khoảng 1,5 kg lúa giống so với cách làm truyền thống. Đồng thời, sau khi lúa đẻ nhánh, điều tiết nước bằng cách rút sạch nước để cây lúa thôi không đẻ nhánh, tập trung dinh dưỡng nuôi cây, nuôi hạt, giúp lúa cứng cây, chống đổ tốt, chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện thời tiết bất thường. Mô hình đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, diện tích gieo cấy theo mô hình và năng suất tăng dần qua các năm. Năm 2007, toàn huyện có 25,5ha thực hiện mô hình với năng suất trung bình 2 vụ đạt 57,6 tạ/ha, tăng bình quân so với tập quán gieo cấy thông thường 12 tạ/ha. Vụ xuân 2011, tổng diện tích gieo cấy theo mô hình đạt trên 2.200 ha, cho năng suất 70,7 tạ/ha, tăng 4,7 tạ/ha so với cách gieo cấy thông thường. Hạch toán hiệu quả kinh tế, từ năm 2007-2011, tổng giá trị đạt trên diện tích ứng dụng là 266,8 tỷ đồng, tăng so với tập quán gieo cấy truyền thống 21,1 tỷ đồng; hiệu quả kinh tế đạt 134,2 tỷ đồng; tổng kinh phí tiết kiệm được 9,8 tỷ đồng. Mô hình đã được người nông dân đón nhận và đã nhân ra diện rộng. Đến nay, toàn huyện có 24/29 xã, thị trấn thực hiện mô hình. Vụ xuân năm 2015, tổng diện tích gieo cấy toàn huyện đạt gần 6.400ha, trong đó có 5.400 ha áp dụng mô hình này. Theo đánh giá của Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Vĩnh Tường, kết hợp 2 biện pháp kỹ thuật: Mật độ cấy lúa thích hợp và điều tiết nước giai đoạn cuối đẻ nhánh của cây lúa là biện pháp thâm canh lúa, đã giảm chi phí giống, công lao động, nước tưới, điện bơm nước, thuốc bảo vệ thực vật và tăng năng suất lúa, tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất, góp phần bảo vệ môi trường. Quan trọng hơn cả, người nông dân đã nhận thấy những ưu điểm của biện pháp kỹ thuật này và sử dụng hiệu quả vào sản xuất nông nghiệp, trở thành tập quán sản xuất của đông đảo nông dân địa phương.

 

Nông dân xã Vũ Di trồng cà chua ghép cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn so với trồng cà chua không ghép

Tiếp nối thành công của đề tài: “Cấy lúa theo mật độ thưa và điều tiết nước giai đoạn cuối đẻ nhánh để thâm canh lúa cao sản trên đất phù sa”, vụ Thu Đông năm 2009, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Vĩnh Tường thực hiện tiếp đề tài khoa học “Xây dựng mô hình trồng cà chua ghép trái vụ trên gốc cây cà tím”. Mục đích của đề tài nhằm khắc phục bệnh héo rũ vi khuẩn và nâng cao hiểu quả kinh tế trong sản xuất cà chua trái vụ. Từ năm 2010 đến nay, huyện Vĩnh Tường tiếp tục xây dựng mô hình ứng dụng kết quả nghiên cứu cà chua ghép trên địa bàn với quy mô và số hộ tham gia ngày càng lớn. Qua thực tế triển khai, cà chua ghép trái vụ đã khẳng định ưu thế kháng bệnh héo rũ vi khuẩn của giống cà chua không ghép gốc. Đồng thời cũng khẳng định, giống cà chua Savior ghép trên gốc cà tím là một trong các giống thích hợp với điều kiện sản xuất của huyện Vĩnh Tường bởi tiềm năng về năng suất và giá trị vượt trội so với cà chua đối chứng không ghép, mở ra hướng đi mới để Vĩnh Tường hình thành các vùng sản xuất cà chua hàng hóa. Qua 5 năm triển khai trên địa bàn huyện Vĩnh Tường, cà chua ghép trên gốc cà tím đã cho năng suất và hiệu quả kinh tế rất cao. Theo đánh giá của các hộ trồng cà chua, cây cà chua ghép có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, cây khỏe, bộ lá có màu xanh đậm, bản lá dày, có khả năng chống chịu nhiệt và kháng bệnh cao (đặc biệt là bệnh héo rũ vi khuẩn). Số chùm hoa và tỷ lệ đậu quả cao, một cây trung bình có khoảng 60 - 80 quả và đạt từ 3 đến 4 kg quả/gốc ghép, tùy theo điều kiện chăm sóc tại các xứ đồng mà số lượng quả có thể cao hơn nhiều như ở các ruộng tại Tân Tiến, Đại Đồng. Năng suất bình quân cả vụ đạt trên 3 tấn/sào, có nơi đạt từ 3,5 đến 4 tấn/sào, giá trị thu nhập khoảng 20 triệu đồng/sào.

Lĩnh vực chăn nuôi của Vĩnh Phúc trong những năm qua đang có sự tăng trưởng vượt bậc, đặc biệt là chăn nuôi lợn được xác định là thế mạnh của tỉnh. Từ thực tiễn đó Trung tâm Giống vật nuôi đã thực hiện đề tài: “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật thụ tinh nhân tạo bằng các giống lợn mới để nâng cao năng suất, chất lượng thịt, góp phần an toàn dịch bệnh giai đoạn 2013-2015”. Đây là đề tài thực hiện trong 3 năm 2013-2015 với tổng kinh phí là 1,9 tỷ đồng. Thực hiện nội dung được duyệt, từ đầu năm đến nay, Trung tâm đã tiến hành nhập 19 con lợn đực giống ngoại với các giống gồm: Pidu, Pi4, Maxter16, Pietran, Duroc, Landrace. Hiện số lợn trên đã đi vào khai thác tinh. Đàn lợn giống đang được nuôi dưỡng và chăm sóc tại Trung tâm, cung ứng tinh cho 65 điểm, với 30.000 liều tinh cung cấp cho các hộ trên địa bàn tỉnh. Áp dụng phương pháp thụ tinh nhân tạo người chăn nuôi giảm được chi phí khoảng 55.000 đ/lần phối giống. Lợn thương phẩm được sinh ra từ thụ tinh nhân tạo, chi phí thức ăn trên 1 kg tăng trọng thấp hơn so với lợn được sinh bằng phối giống truyền thống. Tỷ lệ thụ thai đạt 75%, tỷ lệ này đạt mức độ khá cao trong tỷ lệ thụ tinh nhân tạo (yêu cầu 70-80%). Số lợn con sinh ra/ổ của lợn thí nghiệm đạt 11,10-12,07 con/ổ, số con sống đến 24h đạt 10,70 – 11,30 con/ổ, số con sống đến 21 ngày đạt 10,40-10,70 con/ổ. Qua kết quả theo dõi về năng suất sinh sản của đàn lợn nái, ta thấy các chỉ tiêu đạt và vượt mức theo định mức kỹ thuật của Bộ NN&PTNT. Thông qua việc áp dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo phối giống cho đàn lợn nái của người dân, đã góp phần giảm nguy cơ lây lan dịch bệnh tại các địa phương, đảm bảo an toàn dịch bệnh cho đàn lợn trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, mang lại hiệu quả kinh tế-xã hội rõ rệt.

Vai trò của KHCN trong tiến trình tái cơ cấu nông nghiệp

Tỉnh Vĩnh Phúc đang khẩn trương xây dựng đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp với quan điểm chủ đạo là: Lấy con người và khoa học công nghệ là động lực cho phát triển nông nghiệp. Tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng phát triển các ngành sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn, có lợi thế, có thị trường. Tập trung, ưu tiên hỗ trợ các ngành hàng chủ lực theo chuỗi liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ, ưu tiên mô hình sản xuất áp dụng công nghệ sản xuất hiện đại, xanh, sạch. Nội dung trên đòi hỏi tính ứng dụng và làm chủ khoa học công nghệ rất cao. Tuy nhiên, việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học trong ngành nông nghiệp thời gian qua còn nhiều hạn chế như: Một số đề tài, mô hình mới chỉ dừng lại ở mức độ xây dựng mô hình, chưa được nhân rộng ra sản xuất; nội dung của một số đề tài còn đơn điệu, nghèo nàn, mới chỉ tập trung vào khâu giống, kỹ thuật canh tác là chính, chưa có đề tài nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sau thu hoạch, bảo quản chế biến nông sản, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, công nghệ mới và sản phẩm chất lượng cao, chưa tiếp cận nhanh với khoa học công nghệ hiện đại của thế giới và khu vực. Đây cũng là thực trạng chung trong công tác nghiên cứu khoa học ở nước ta, bởi theo phát biểu của Bộ trưởng Cao Đức Phát tại hội thảo Khoa học công nghệ tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới: “ Khoa học công nghệ trong nông nghiệp Việt Nam vẫn còn nhiều yếu kém, trình độ khoa học công nghệ nhiều lĩnh vực còn thấp so với khu vực và thế giới, chất lượng và hiệu quả kinh doanh sản phẩm chưa cao. Ví dụ số lượng giống mới được đưa vào sản xuất nhiều nhưng thời gian tồn tại không lâu và chưa cạnh tranh chất lượng so với các giống nước ngoài,…Bởi vậy, quá trình hội nhập kinh tế yêu cầu cần nâng cao trình độ khoa học và công nghệ trong ngành nông nghiệp, đây được xem là khâu then chốt nhằm hoàn thành những nhiệm vụ đề ra.”

Chúng ta đã được biết đến nền nông nghiệp Nhật Bản, Israel mặc dù tài nguyên đất đai, khí hậu của họ không được thiên nhiên ưu đãi như ở nước ta nhưng nhờ ứng dụng KHCN hiện đại nên nền nông nghiệp của họ đứng đầu thế giới. Những nước trong khu vực như Thái Lan, Philippin cũng có nền nông nghiệp tương đối hiện đại do tích cực đầu tư KHCN vào nông nghiệp. Đất nước ta có nhiều tiềm năng để phát triển sản xuất nông nghiệp do tài nguyên đất đai và khí hậu thuận lợi, tuy nhiên để khai thác được tiềm năng đó thì việc phát huy vai trò của KHCN là giải pháp then chốt. Đây là vấn đề mà đề án tái cơ cấu nông nghiệp đang tập trung giải quyết cùng với các giải pháp về đất đai, lao động, thị trường để đưa nền nông nghiệp nước ta vươn lên hội nhập với thế giới, tập trung phát triển các sản phẩm có thế mạnh, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững./.

 

Trung tâm Thông tin Nông nghiệp & PTNT

Ngày đăng: 27-04-2015 - Tác giả:Tự Cường - Số lần được xem: 8911


 CỔNG GIAO TIẾP ĐIỆN TỬ SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VĨNH PHÚC  

Giấy phép xuất bản số: 154/GP–TTĐT, cấp ngày 18/10/2012 của Cục quản lý Phát thanh, truyền hình và Thông tin điện tử

Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Tiến Phong – Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT Vĩnh Phúc

Trụ sở: Đường Nguyễn Viết Xuân, phường Đống Đa, TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

ĐT: 0211.3862516;      Fax: 0211.3860683,      Email: sonnptnt@vinhphuc.gov.vn